Các thành phần trong nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp

0
2871
tin dung ngan hang
Tín dụng ngân hàng

Cùng với việc huy động các nguồn tài trợ dài hạn (nguồn vốn thường xuyên) để đáp ứng nhu cầu về các tài sản dài hạn, các doanh nghiệp còn phải huy động những nguồn tài trợ có tính chất ngắn hạn (nguồn vốn ngắn hạn) để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn.

cac nguon tai tro von ngan han
Các nguồn tài trợ vốn ngắn hạn bao gồm những nguồn nào?

Vậy những nguồn tài trợ ngắn hạn chủ yếu mà các doanh nghiệp có thể xem xét bao gồm những thành phần nào?

1. Nợ phải trả có tính chất chu kỳ

Trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân mà luôn nảy sinh ra những khoản nợ phải trả có tính chất chu kỳ.

Ví dụ như các khoản phải trả cho người lao động, các khoản phải nộp cho nhà nước, các khoản phải trả người bán và các khoản phải nộp khác…

Các khoản nợ trên còn gọi là nợ tích lũy và thường xuất hiện khi doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Nếu như chưa đến hạn thanh toán các khoản nợ này, doanh nghiệp có thể sử dụng  tạm thời vào hoạt động kinh doanh của mình.

Các khoản nợ tích lũy bao gồm:

Tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động nhưng chưa đến kỳ hạn trả

Thường thì tiền công và lương của nhân viên trong các doanh nghiệp được chi trả hàng tháng theo 2 kỳ: Kỳ tạm ứng thường diễn ra vào giữa tháng và kỳ thanh toán vào đầu tháng sau. Giữa 2 kỳ trả lương sẽ phát sinh những khoản nợ lương trong kỳ.

Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa đến kỳ

Các khoản thuế phải nộp hàng tháng như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp năm trước nộp vào đầu năm sau, duyệt quyết toán…

Các khoản nợ phát sinh khác

Ngoài các khoản nợ trên thì còn có những khoản nợ phát sinh mang tính chất như một nguồn tài trợ mà doanh nghiệp có thể tận dụng trước mà không cần phải trả chi phí. Đó chính là những khoản tiền tạm ứng trước của khách hàng, số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào tính chất quan trọng của hàng hóa, sản phẩm đó cũng như tình hình cung cầu trên thị trường, khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, yêu cầu và điều kiện thanh toán của đôi bên.

Ưu điểm của nguồn vốn ngắn hạn trên chính là việc sử dụng nguồn vón này khá dễ dàng và không phải trả tiền lãi như sử dụng nợ vay. Đặc biệt nếu nhu doanh nghiệp có thể xác định chính xác được quy mô chiếm dùng thường xuyên (nợ định mức) thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể giảm bớt được nhu cầu huy động các nguồn vốn dài hạn từ bên ngoài, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.

Hạn chế của nguồn tài trợ này đó chính là thời gian sử dụng thường ngắn và có quy mô nguồn chiếm dụng không lớn.

2. Tín dụng nhà cung cấp

tin dung nha cung cap
Tín dụng nhà cung cấp

Đây là nguồn vốn nảy sinh do việc doanh nghiệp tiến hành mua chịu vật tư, hàng hóa của nhà cung cấp thiết bị, vật tư…

Việc mua chịu giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, dịch vụ đã xuất hiện từ lâu, hình thức tín dụng này chiếm vị trí quan trọng trong nguồn tài trợ ngắn han đối với doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp mới hình thành hoặc do vốn hoạt động còn bị hạn chế.

Việc doanh nghiệp được nhận vật tư, tài sản, dịch vụ để hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng chưa phải thanh toán, trả tiền ngay cho nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp đó chính là:

– Tăng thêm nguồn vốn tín dụng đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp hoạt động.

– Việc sử dụng nguồn vốn này dựa trên cơ sở sự đàm phán tự nguyện giữa doanh nghiệp và nhà cung cáp do đó diễn ra khá dễ dàng về mặt thủ tục.

– Kết quả đưa đến nhanh khi nhà cung cấp biết rõ khách hàng, có thể đánh giá được khả năng thu hồi nợ, mức độ tiến nhiệm và những rủi ro có thể gánh chịu.

Tuy vậy nhưng việc sử dụng tín dụng nhà cung cấp cũng cần phải tính đến chi phí của khoản tín dụng đó. Vì vậy, trong nhiều trường hợp để đi đến quyết định doanh nghiệp có nên sử dụng tín dụng thương mại hay không, cần phải xác định rõ chi phí của các khoản tín dụng thương mại đó, cũng như cần so sánh với lãi suất vay ngân hàng để xem chi phí của khoản tín dụng thương mại cao hay thấp.

Cách tính chi phí của tín dụng thương mại như sau:

Chi phí của tín dụng thương mại  = Tỷ lệ chiết khấu (%)  x 360
1 – Tỷ lệ chiếu khấu (%) Số ngày mua chịu – thời gian hưởng chiết khấu

 

Hạn chế của nguồn vốn này là quy mô nguồn vốn thường không lớn, đồng thời việc nhà cung cấp có bán chịu vật tư hàng hóa hay không còn phụ thuộc vào tình hình tiêu thụ hàng hóa, mối quan hệ cũng như tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp vật tư.

3. Tín dụng ngân hàng

tin dung ngan hang
Tín dụng ngân hàng

Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là một nguồn tài trợ đặc biệt cho doanh nghiệp, cũng là nguồn tài trợ ngắn hạn như nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp gia tăng trong hoạt động kinh doanh.

Ưu điểm của nguồn vốn này là doanh nghiệp được hưởng lợi về thuế do lãi tiền vay được có khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.

Hạn chế của nguồn vốn này là doanh nghiệp cần phải chấp hành đầy đủ các nguyên tắc, quy định hiện hành về tín dụng ngắn hạn mới có thể vay được vốn của ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác.

4. Chiết khấu thương phiếu

chiet khau thuong phieu
Chiết khấu thương phiếu

Thương phiếu là chứng chỉ có giá trị nhân lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định.

Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất thông thường muốn vay ngắn hạn cần thế chấp bằng khoản phải thu, nhưng thay vì việc dùng hình thức này để thế chấp, có thể sử dụng thương phiếu để chiết khấu trên thị trường tiền tệ.

Doanh nghiệp có thể đem chiết khấu các hối phiếu xuất khẩu trả tiền trước và hối phiếu xuất khẩu có thời hạn tại bộ phận chuyển khoản thuộc ngân hàng để nhận được những khoản vay ngắn hạn.

Nguồn vay ngắn hạn này có mức chi phí thấp hơn hình thức vay ngắn hạn khác vì mức lãi suất chiếu khấu thường thấp hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Số tiền thu được khi đem các thương phiếu đi chiết suất có thể được tính theo công thức:

M = V – (V.i.n)/360

Trong đó:

M là số tiền thu được khi đem thương phiếu đi chiết khấu

V là giá trị ghi trên thương phiếu (mệnh giá)

i là lãi suất chiết khấu (tính theo năm)

n là số ngày chiết khấu

5. Bán nợ

Trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan dẫn tới việc xuất hiện các khoản nợ phải thu khó đòi, nợ quá hạn của khách hàng… mà bản thân doanh nghiệp không hoặc khó có khả năng thu hồi được.

ban no
Có những khoản nợ xấu không thu hồi được cần phải bán

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp co thể xử lý các khoản nợ phải thu khó đòi hoặc nợ quá hạn đó bằng cách bán các khoản nợ đó cho các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp.

Tùy vào quy định ở mỗi quốc gia mà các tổ chức mua bán nợ có thể là ngân hàng thương mại hay công ty mua bán nợ.

Các tổ chức mua bán nợ và doanh nghiệp cần bán khoản nợ phải thu sẽ thương lượng với nhau và đi đến thỏa thuận giá mua khoản nợ.

Sau khi kết thúc mua bán khoản nợ, doanh nghiệp bán nợ thông áo cho khách nợ biết việc chuyển đổi chủ nợ. Khi đó có thể coi đây là một hình thức tài trợ ngắn hạn cho doanh nghiệp. Bên mua nợ sẽ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ và chịu rủi ro có thể xảy ra trong quá trinh thu hồi nợ.

6. Các nguồn tài trợ ngắn hạn khác

Ngoài các nguồn tài trợ ngắn hạn trên, doanh nghiệp có thể sử dụng các nguồn khác để tài trợ nhu cầu tăng vốn lưu động tạm thời, như các khoản tiền đặt cọc, tiền ứng trước của khách hàng, các nguồn tài trợ không có bảo đảm khác như tín dụng thư, các khoản cho vay theo từng hợp đồng cụ thể.

Thuận lợi và hạn chế của các nguồn tài trợ ngắn hạn

Thuận lợi

– Sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuận lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dài hạn. Bởi vì các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn so với tín dụng dài hạn.

– Chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn thường thấp.

– Sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng, inh hoạt điều chỉnh hơn cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.

Hạn chế

– Doanh nghiệp phải chịu rủi ro về lãi suất cao hơn vì lãi suất tín dụng ngắn hạn biến động nhiều hơn so với lãi suất dài hạn.

– Rủi ro vỡ nợ ở mức cao hơn bởi sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn đòi hỏi doanh nghiệp cần có nghĩa vụ thanh toán lãi vay và hoàn trả vốn gốc trong một thời gian ngắn, nếu tình hình kinh doanh gặp khó khăn, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn dẫn đến phá sản doanh nghiệp.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here